LTS: Những bài vở trên đây không nhất thiết là quan điểm của diễn đàn. Mục đích để đóng góp tài liệu tham khảo, tài liệu lịch sử làm phong phú thêm trí tuệ, làm sáng tỏ sự thật, vạch trần tội ác tập đoàn việt gian Cộng Sản. tội ác tên Giặc Hồ Chí Minh và bè lũ tay sai việt gian bán nước đã cố tình bưng bít, dấu kín, xuyên tạc lịch sử Việt Nam, giết hàng chục triệu người dân vô tội, bỏ tù hàng triệu quân cán chính VNCH, bán đất dâng biển, làm nô lê cho Tàu, Nga..v.v..
" Hiểu một thời đại nghĩa là phải lấy con tâm và con mắt lịch sử, nghiệm qua các thời đại để mà đứng trên nền tảng với điều kiện đó để mà hiểu thời đại đó.""[HH-trang45]
" Để phục hưng và phục hoạt, phải lấy một con mắt nghiêm ngặt Việt, đứng siêu nhiên trên lập trường Việt, thi thiết bằng những chính sách và kế hoạch siêu nhiên và nghiêm ngặt, có một thái độ nghiêm ngặt và siêu nhiên lịch sử Việt."[HH-trang45]



HOME-Tro Ve Trang Chinh




Saturday, December 25, 2010

guyễn Đăng Thục-BỐN NGÀN NĂM VĂN HIẾN



BỐN NGÀN NĂM VĂN HIẾN

Nguyễn Đăng Thục

Vấn đề dân tộc Việt Nam có "bốn ngàn năm văn hiến" như các nhà văn hóa hiện nay đã tuyên bố khiến cho trong giới thanh niên trí thức thắc mắc và nghi ngờ, không biết hai chữ "văn hiến" có ý nghĩa gì, và căn cứ vào đâu để nói với cả một tin tưởng.

Nguyễn Trãi, khi giúp Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh, xây dựng lại nền độc lập, tự trị của nước nhà cũng chỉ tuyên cáo với quốc dân:

Duy ngã Việt chí quốc,

Thực vi văn hiến chi bang.

Sơn xuyên chi phong vực kỳ thù

Nam Bắc chi phong tục diệc dị.

Việt, Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc

Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương.

(Bình Ngô Đại Cáo)

Nghĩa là:

Thử xét nước nhà Đại Việt

Vốn thật một nước văn hiến

Núi sông khu vực đã khác biệt

Phong tục phương Bắc, phương Nam không giống.

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần dựng nên nước ta

Với Hán, Đường, Tống, Nguyên ai nấy làm chúa một phương.

Đấy là Nguyễn Trãi, muốn cổ võ cho tinh thần quốc gia dân tộc mà cũng chỉ dám kể từ nhà Triệu, tự xưng là Nam Việt vương đóng đô ở Phiên Ngung ngày nay là Quảng Châu tỉnh Quảng Đông vào năm 237 tr.cn. Như vậy thì lấy đâu ra 4000 năm văn hiến? Nói đến Văn hiến là ngụ ý có văn chương bút ký và người hiền tài, có công trình xây dựng cho nước, cho dân mà đời sau còn tôn thờ làm Anh hùng Dân tộc. Nói "Bốn ngàn năm văn hiến" của Việt Nam chẳng hóa ra ngoa ngôn cuồng tín hay sao? Khổng Phu tử xưa kia nói đến nước Hạ, nước Ân cũng chỉ dám tuyên bố:

Hạ lễ ngô năng ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã.

Ân lễ ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng dã.

Văn hiến bất túc, cố dã!

(Luận ngữ – Bát dật)

Nghĩa là:

Chế độ nhà Hạ ta có thể nói được mà nước Kỷ là dòng dõi nhà Hạ không còn gì đủ chứng lời ta.

Chế độ nhà Ân ta có thể nói được mà nước Tống là dòng dõi nhà Ân không còn gì đủ chứng lời ta.

Xem thế đủ thấy nhà sử gia có lương tâm của một người học giả phải thận trọng điều mình nói, mình viết là nhường nào! Nay nói "bốn ngàn năm văn hiến" có nghĩa là bốn ngàn năm nước Việt Nam đã có văn học và người hiền, vậy thì lấy gì làm chứng cứ?

Lại theo quốc sử, vua Trần Nhân Tông khi sai Quốc Tuấn ra chận đánh quân Nguyên có ban cho câu thơ nhắc đến Việt tộc:

Cối kê cựu sự quân tu kỳ

Hoan Diễn do tồn thập vạn binh.

Nghĩa là:

Chuyện cũ ở kinh đô Cối kê của Việt vương Câu Tiễn, ông nên nhớ,

Châu Hoan, châu Diễn (Thanh Hóa, Nghệ An) còn có mười vạn quân.

Ở đây, Trần Nhân Tông đã nhắc đến dòng dõi nhà Trần ngược dòng lịch sử đến thời oanh liệt và nhục nhã của ông Tổ xa xăm là Việt vương Câu Tiễn, đóng đô ở Cối Kê miền Triết Giang bên Tầu. Theo "Sử ký Tư Mã Thiên" mục "Việt vương Câu Tiễn thế gia" q.41, ch.11:

"Việt vương Câu Tiễn dòng dõi vua Vũ mà là con thứ của vua Hạ hậu Thiếu Khang (2079 tr.cn) được phong ở Cối Kê để thừa tự họ Vũ. Vẽ mình cắt tóc, phá cỏ rậm để lập ấp, sau hơn 20 đời đến Ô Doãn Thường. Doãn Thường bấy giờ cùng với vua Ngô Hạp Lư đánh nhau gây thành oán thù lẫn nhau. Doãn Thường mất, con là Câu Tiễn được nối ngôi làm vua Việt. Năm đầu vua nước Ngô là Hạp Lư nghe tin Doãn Thường đã chết mới kéo quân sang đánh nước Việt, Việt vương Câu Tiễn dùng mưu đem ba trăm tử tù đến trước cửa doanh vua Ngô, bầy hàng hô lên rồi tự đâm vào cổ chết. Quân vua Ngô ra xem, quân Việt nhân thế đánh tập kích quân Ngô, quân Ngô thua ở Tuy lý, quân Việt bắn trúng vua Ngô Hạp Lư, Hạp Lư bị thương rồi chết, bảo với con là Phù Sai rằng: "Không được quên mối thù đối với nước Việt!" Ba năm Câu Tiễn thấy vua Ngô Phù Sai đêm ngày luyện quân sĩ để báo thù nước Việt. Nước Việt muốn đánh Ngô trước khi nước Ngô chưa động binh. Phạm Lãi can vua rằng: "Không nên. Tôi nghe dạy rằng binh đao là đồ dữ, đánh nhau là cái đức tính ngược, tranh dành là việc hèn mạt vậy. Âm mưu, bạo ngược, thích dùng khí giới dữ tợn, đem thân thí nghiệm vào công việc hèn mạt ấy là điều Thượng Đế ngăn cấm, kẻ làm điều ấy không có lợi ích!" Vua Việt nói: "Ta đã quyết định rồi!" Vua kéo quân đi đánh nước Ngô. Vua nước Ngô được tin mới đem quân tinh nhuệ đánh quân Việt bại ở Phù tiêu. Vua Việt mới thu quân còn lại 5000 người về giữ ở Cối Kê. Vua Ngô đuổi đánh vây Côi Kê. Vua Việt gọi Phạm Lãi lại nói: "Vì không nghe lời ông cho nên đến nỗi này, biết sao bây giờ?" Lãi tâu: "Đầy mà không tràn là đạo Trời, khiêm nhường là đạo người, tiết dụng là theo phép đất: Đưa đồ lễ hậu sang, lấy lời nói nhún nhường của khúm núm, không để cho lấy nước Việt mà tự đem thân mình sang hầu hạ!"

Nếu căn cứ vào dòng dõi Việt vương Câu Tiễn thì theo bộ sử cổ điển nhất của Tư Mã Thiên, một sử gia danh tiếng thế kỷ I trước công nguyên thì chủng tộc Việt Nam bắt nguồn từ nhà Hạ bên Tàu (2205-1770 tr.cn) mà họ Hồng Bàng theo Việt sử có từ 2879 tr.cn, bắt đầu từ Kinh Dương Vương, truyền đến Hùng Vương tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu. Phong Châu theo sử cũ thì phía Đông đến bể, Tây đến Ba Thục, Bắc đến Động Đình hồ, Nam tiếp giáp với Hồ tôn. (Việt sử tiêu án)

"Việt sử lược" là bộ sử đầu tiên của Việt Nam cũng viết rõ hơn:

"Xưa Hoàng Đế dựng muôn nước thấy Giao Chỉ ở xa ngoài cõi Bách Việt, không thể thống thuộc được bèn chia giới hạn ở góc Tây Nam.

"Đến đời Thánh vương nhà Chu (1024-1005 tr.cn) Việt Thường thị mới đem dâng bạch trĩ, sách Xuân Thu, gọi là Khuyết địa Đài ký (Lễ ký Đại Đái, Tiểu Đái chú) gọi là Điêu đề.

"Đến đời Trung vương nhà Chu (696-682 tr.cn) ở bộ Gia Ninh (tức là Mê Linh nhà Hán. Phong Châu đời Đường quê hương của Trưng Trắc mà theo truyền thuyết là dòng dõi Hùng Vương) có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong thục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương. Việt Câu Tiễn (505-465 tr.cn) đã sai sứ tới dụ, Hùng Vương chống cự lại.

"Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu.

"Cuối đời Trần, Triệu Đà chiếm cứ Uất Lâm Nam Hải, Tượng Quận, xưng vương đóng đô ở Phiên Ngung, quốc hiệu là Việt, tự xưng là Vũ Vương" (Việt Sử lược I, 1b)

Trong các đoạn văn sử kiện chính thức của Tàu và Ta thì có điểm nào là sự thực, điểm nào là truyền thuyết?

Ông giáo sư Henri Maspéro, trường E.F.E.O, Viễn Đông bác cổ học viện, có căn cứ vào hai chữ Văn Lang để mô tả xã hội xưa của giống người Việt trên đất Giao Chỉ. Truy nguyên hai chữ Văn Lang, H.Maspéro viết: "có sự lầm lẫn giữa chữ Văn Lang với chữ Dạ Lang. Sự sai lầm không phải hoàn toàn là một giả thuyết; những bản văn chứng rằng sự lầm lẫn đó đã xảy ra thực. Sách "Thông điển" viết: "Phong châu là nước Văn Lang cũ và chú thích rằng hiện nay có con sông con gọi là sông Văn Lang" (q.184 tr.25b). Sách "Nguyên hòa quận huyện chí" lại viết: "Phong châu là tên nước Dạ Lang cũ. Thực vậy, hiện nay thuộc huyện Tân Xương có con sông Dạ Lang. thế mà vào khoảng đầu đời nhà Hán có một nước Mèo ở về phía Nam Trung Hoa tên gọi là Dạ Lang chiếm một phần tỉnh Quảng Tây và Quế Châu. Về phía Tây giáp nước Điều của người Lô Lô miền Tây tỉnh Vân Nam bấy giờ, phía Đông hồ Vân Nam. Nhưng người ta biết rằng nước Mèo đã quy phục nhà Hán năm 111 tr.cn và gọi là Kiện Vi. Sau này quận đó chia làm hai, quận Kiện Vi ở phía bắc và quận Thương Ngô ở về phía nam. Nếu muốn biết rõ biên giới của hai quận này thì cũng không khó khăn lắm. cuối đời Tiền Hán, quận Kiện Vi phía Bắc và phía Tây giáp sông Dương Tử giang ngăn quận Kiện vi với quận Ba. Còn quận Thương Ngô thì phía Bắc giáp quận Kiên Vi, phía Tây giáp quận Tấn Ninh tức là nước Điền cũ, phía Đông Bắc giáp quận Vũ Lăng tức là quận Kiến Trung đời nhà Tấn. Ở đó có hồ Động Đình" (H.Maspéro, Le royaume de Văn Lang, BEFEO t.XVIII 3, 1918)

"Vậy người ta có thể nói rằng, nước Dạ Lang một mặt thì giáp quận Ba Thục và một mặt thì giáp hồ Động Đình".

Đấy là Văn Lang về khu vực địa lý. Maspéro còn truy nguyên Văn Lang về ý nghĩa chủng tộc nữa như sau:

"Nhưng cái tên Văn Lang ở đâu mà ra? Một tên không thấy nói đến trong văn chương đời xưa cho tới thời Đường xuất hiện một cách đột nhiên, và lúc bấy giờ đã bị lầm với tên Dạ Lang. Phải chăng người ta tự hỏi cái tên đó là do một sự lẫn lộn khác? Sách "Lâm ấp ký" đặt về phía Nam huyện Chu ngô trong hạt Nhật Nam, nơi có giống mọi gọi là Văn Lang (sách Thuỷ kinh chú, Thái bình hoàn vũ ký cũng có ghi như thế). Họ không biết xây nhà, ở trên cây, ăn cá và thịt sống, buôn bán các chất thơm. Họ lấy tên họ đặt cho con sông phía Nam huyện ấy. Văn Lang Cứu…. Sau này họ lại lầm Văn Lang với Dạ Lang thành thử họ cho Văn Lang ở quận Phong thuộc địa phận huyện Bạch Hạc và Việt Trì ngày nay, đồng thời lại viết lầm hai chữ mà sử gia Việt Nam đã chép theo".

Đoạn văn suy diễn trên đây của Maspéroo toàn là suy từ giả thiết lầm chữ nọ ra chữ kia của người xưa, thật cũng khó cho chúng ta tin, duy có chữ Văn Lang là tên một giống người ở phương Nam Trung Hoa là đáng cho chúng ta để ý.

Sách sử ký của Tư Mã Thiên chép lại đoạn văn ở Chiến Quốc sách (q.6 tờ 21) thế kỷ thứ III tr.cn: "tiễn phát văn thân thố tí tả nhậm Âu Việt chi dân dã" (Sử ký q.43 tờ 9).

Sách Hoài Nam tử (q.1 tờ 4) cũng có đoạn viết về tục người Việt, và là tài liệu xưa nhất về ký chú: "Cửu nghi chi Nam lục sự quả nhi thuỷ sự chúng. Ư thi dân nhân bị phát văn thân dĩ tượng lân trùng".

Nghĩa là: "Phía nam Cửu Nghi (tức Thương Ngô) người ta làm việc trên bộ ít mà làm việc dưới nước nhiều. Bởi thế nên nhân dân cắt tóc ngắn, vẽ mình để bắt chước thuồng luồng".

Theo giáo sư La Hương Lâm là nhà sử học danh tiếng Trung Quốc hiện đại, trong tác phẩm "Bách Việt nguyên lưu dữ văn hóa": Việt tộc thời cổ lấy cắt tóc vẽ mình "bị phát văn thân" làm dấu hiệu đặc trưng duy nhất. Mặc tử thiên "Cống Mạnh" "Việt vương Câu Tiễn phát văn thân".

Hàn Phi tử thiên Thuyết lâm:

"Lũ vì lý chi dã, nhi Việt nhân tiện hành, cảo vi quán chi dã, nhi Việt nhân bị phát": "dép gai làm giầy mà người Việt đi chân, the lụa làm mũ mà người Việt búi tóc". "Hán thư địa lý chí" viết:

"Nay Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Châu, Nam Hải, Nhật Nam đều là địa phận của người Việt, là sau vua Vũ, con thứ vua Thiếu Khang Đế, được phong ấp ở Cối Kê, vẽ mình cắt tóc để tránh cái hại về giao long, thuồng luồng, cá sấu".

Tóm lại, các sách cổ Hán văn đều ghi từ kỷ nguyên trước kỷ nguyên Thiên Chúa, ở phương Nam nước Tàu ngày nay có một giống người có tục vẽ mình, Văn Lang phân chia ra nhiều bộ lạc mà sử gia giáo thụ La Hương Lâm đã kê cứu: Ô Việt, Âu Việt, Mân Việt, Dương Việt, Sơn Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Tây Ấu Việt, Việt Thường, Đan Việt, Đằng Việt, Điều Việt, Việt Tuỷ, Cứu Việt, Dạ Lang, Quỳ Việt v.v… Đấy là tổng danh Bách Việt vậy.

Giáo sư L.E.Aurousseau trường Viễn Đông bác cổ cũng căn cứ cái tục Văn Lang, nghĩa đen là bộ lạc giống người vẽ mình để truy nguyên nói giống Việt, căn cứ vào đoạn văn Sử ký sau đây:

"Tiễn phát văn thân thố tí tả nhậm Âu Việt chi dân dã" (Sử ký q.43 tờ 9)

Nghĩa là:

"Cắt tóc vẽ mình, khoanh tay, cài bên trái, đấy là tục của dân Âu Việt".

Và chú giải của Tư Mã Thành rằng: "Họ Lưu bảo ngày nay (đầu thế kỷ thứ VIII) người quận Châu Nhai và Đàm Nhĩ có Âu Việt".

Trương Thủ Tiết (737) giải thích:

"Tôi nghĩ gọi là Âu Việt bởi vì dân ấy thuộc về Nam Việt. Theo "Dư Địa chí" thì Giao Chỉ là xứ Lạc Việt thời nhà Chu (841-256 tr.cn), đến thời nhà Tần gọi là Tây Âu. Vẽ mình, ngắn tóc để tránh rồng (cá sấu). Nếu người ta gọi là Âu Lạc phía Tây (Tây Âu Lạc) là cũng vì xứ ấy ở về Tây Nam quận Phiên Ngung. Việt với Âu Lạc đều họ Mi. Thế Bản nói người Việt họ Mi cùng với người Sở một tổ vậy."

Rồi Aurousseau suy luận rằng:

"Đoạn văn sử ký Tư Mã Thiên với lời chú giải và văn trích dẫn rất đáng chú ý về nhiều mặt. Những nét phong tục phác họa ở đấy ứng dụng vào cho nhân dân miền Lưỡng Quảng và Bắc kỳ hiện nay vào thời thế kỷ thứ III thứ II tr.cn. Không có gì phân biệt giữa nhân dân trên lãnh thổ rộng lớn ấy cả. Điều ấy rất hợp cho các bộ lạc miền cực Nam là dân An nam tr.cn cho nên có thể kết luận là toàn thể nhân dân tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam là giống người Việt Nam trước thế kỷ II tr.cn. Một danh từ nhân chủng là Việt chỉ định tổng quát.

"Mặt khác, một tên họ Mi thời ấy được xác nhận cho người Việt – Việt Quảng Đông và Việt Phúc Kiến. Như vậy có sự quan hệ mật thiết về dòng dõi giữa nhân dân Phúc Kiến và nhân dân các xứ Việt Nam vào thế kỷ thứ III tr.cn.

"Danh từ Việt vào giữa thế kỷ thứ IV trước kỷ nguyên Thiên Chúa còn ứng dụng cho một nước mà kinh đô ở tại tỉnh Thiệu Hưng (Triết Giang) ngày nay. Theo tôi hiểu thì nhân dân của nước ấy là nước Đại Việt thuộc về nòi giống Việt phương Nam tức là giống người Việt Nam vậy.

"Thực thế, Tư Mã Thiên nói ở thiên sách sử ký về "Việt thế gia!": Tổ Câu Tiễn là dòng vua Vũ… Văn thân đoạn phát… Danh từ "văn thân đoạn phát" đúng như danh từ được dùng "Chiến Quốc sách" (thế kỷ III tr.cn) ở sử ký (cuối thế kỷ II tr.cn) và ở "Tiền Hán Thư" (thế kỷ I đầu kỷ nguyên) để nói về phong tục giống nhau của giống người Việt, Việt phương Nam và Âu Việt tức Việt Nam.

"Một tác phẩm khác cổ xưa, chuyên nói về sự suy bại của nước Việt là "Việt tuyệt thư" (thế kỷ I kỷ nguyên tây lịch) cũng nói ở mục Bản sự rằng: "Vua Việt Câu Tiễn, ở miền duyên hải phía Đông và cai trị một dân mọi vẽ mình". Cái tên Việt với tục "văn thân" giống nhau ấy là xác chứng danh từ Việt phổ thông chỉ định vào thế kỷ III tr.cn cho toàn thể chủng tộc nhân dân các tỉnh Trung Hoa miền Nam và các xứ Việt Nam.

"Cùng một nhân chủng Việt, cùng một họ Mi và cùng một phong tục, như vậy phải kết luận rằng người Việt Nam nguồn gốc ở nước Việt xưa, thiết dựng tại miền Triết Giang từ bao giờ không biết và, lần đầu thấy ở trong lịch sử chính thức vào cuối thế kỷ IV trước công nguyên" (L.Aurousseau, La première conquête chinoise des pays Annamite (IIIè siècle avant notre ère) BEFEO, t.XXIX, 1929).

Vậy có thể nói chắc rằng thời cổ xưa ở miền Nam nước Trung Hoa có một giống người theo tục vẽ mình gọi là "Văn thân, Văn Lang" phân biệt với giống người Hán tộc ở trên phía bắc Trung Hoa, trong lưu vực Hoàng Hà, còn lưu vực Dương Tử kể từ nước Sở trở xuống là khu vực sinh hoạt của Việt tộc Văn Lang, họ Mi gọi chung là Bách Việt, mà Việt vương Câu Tiễn ở kinh đô Cối Kê, miền Triết Giang đã từng có một thời đế bá oanh liệt. Bởi thế nên trong thơ "Sở từ" của Khuất Nguyên mới có lời ai oán, tiếc nhớ:

Răng đen mình trổ dọc ngang.

Và lời thơ của vua Trần Nhân Tông giữa lúc vận nước điêu linh đã nói cho thượng tướng thống lĩnh quân dân cứu quốc"

Cối Kê cựu sự quân tu kỳ!

Như đã dẫn trên để chứng minh nhà Trần vẫn nghĩ đến dòng dõi Việt tộc Câu Tiễn ở Triết Giang thưở xưa. Hơn nữa chính sử của ta đều chép về nhà Trần sự kiện sau đây:

"Thượng hoàng (Nhân Tông) thường ra ngự cung Trùng Quang. Vua Anh Tông đến chầu có Quốc Công, Quốc Tuấn đi theo. Thượng hoàng nói: Dòng nhà ta vốn sống nghề thuyền chài, đời đời hùng dũng ai ai đều xâm vẽ ở đùi. Đời nọ sang đời kia chuộng võ nghệ nên phải xem xâm vẽ đùi tỏ ra không quên gốc. Bấy giờ người thợ xâm mình đang chờ ở cửa để thừa hành mệnh lệnh.. Vua Anh Tông liếc thấy Thượng Hoàng nhìn đi chỗ khác bèn bỏ về cung Trùng Hoa. Một lát sau Thượng Hoàng hỏi: Vua đâu? Tả hữu tâu rằng Vua đã về cung Trùng Hoa. Thượng Hoàng nói: Vua đã trốn chăng? Mới chỉ xâm mình cho Huệ Vũ Vương, Quốc Trân Vương, Hưng Đạo Vương ở đùi cái hình rồng "loa thoa". Từ đấy về sau các vua nối nghiệp nhà Trần không xâm vẽ đùi nữa là bắt đầu từ vua Anh Tông vậy.

"Bổi đầu lập quốc nhà Trần, quân sĩ đều cùng xâm hình rồng ở bụng, ở lưng và ở hai bên đùi, gọi là "thái long", "vẽ rồng". Bởi vậy mà lái buôn nhà Tống thấy dân Việt ta vẽ hình rồng vào thân mình mới bảo là giống thuồng luồng biển sợ hình rồng, thuyền đi biển gặp gió chìm đắm thì thuồng luồng không dám làm hại cho nên tự gọi là "thái long, vẽ rồng" vậy".

Xem đấy đủ thấy rằng không những ở giới lãnh đạo những người hiền năng "văn hiến" thuộc người phương bắc di cư xuống Việt Nam, lai máu định cư ở đấy lâu năm với người bản xứ, mà còn có cả lớp người bình dân như dòng Việt tộc phương Nam Trung Hoa đã di cư xuống Việt Nam còn giữ những tập tục cổ truyền Văn Lang.

Ngoài ra, bên cạnh cái nền Văn hiến dòng Việt Câu Tiễn trong nền Văn hiến Việt Nam kể từ thế kỷ thứ IV, thuộc về sử kiện lịch sử, ngày nay người ta lại chứng minh cách chính xác sự có thật của Văn hiến Ba Thục (Tứ Xuyên) trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Theo Lã Sĩ Bằng trong tác phẩm "Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam" do "Đại học Trung văn" ở Hương Cảng xuất bản có trình bày sự kiện về tiền sử văn hóa Thục Việt như sau:

"Qua sự khai quật khảo cổ cận đại, người ta thấy hai khu vực văn hóa trên rất giống nhau. Sự phát hiện về tiền sử ở Tứ Xuyên có thể phân ra 4 thời kỷ đồ đá:

- thời đồ đã đẽo,

- thời đồ đá truốt đẽo.

- thời đồ đá đẽo

- thời đồ đá mài sáng

Trong bốn loại ấy, thì loại thứ 1 và thứ 2 thấy ở tầng lớp vị trí trước sau rõ ràng giống hệt với văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn ở Việt Nam. Như thế có nghĩa là thời đại Trung thạch khí (Mesolithic) ở Tứ Xuyên đến thời đại Á tân thạch khí (subsolithic) thì giống với văn hóa Việt Nam thời đại Hòa Bình Trung thạch khí, và thời đại Bắc Sơn nguyên tân thạch khí.

Đại thể thì kỹ thuật thời tiền sử của hai khu vực văn hóa đó là một, có đường lối thông đồng. Chủ nhân của văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam thuộc về chủng tộc "Proto-Australoid" và "Proto-Melané soid", còn chủ nhân của văn hóa Bắc Sơn thành phần chủ yếu thuộc về "Indonesian" và "Proto-Melané soid".

Về văn hóa thời đại Thanh đồng thuộc đồ kim khí ở Việt Nam gọi là văn hóa Đông Sơn lấy Trống đồng đại biểu cho nên gọi là văn hóa Trống đồng. Di tích phát hiện Trống đồng thấy ở một khu vực địa lý rộng lớn chu vi gồm lục địa Đông Nam Á, bán đảo hải đảo từ Tứ Xuyên cho đến quần đảo Malacca. Theo giáo sư Lăng Thuần Thanh từng nghiên cứu thì bắt đầu khởi đúc trống đồng là ở Trung Quốc Bách Việt mà Hoa trung là địa khu từ xưa của dân tộc Bách Việt chiếm cứ sinh hoạt. Theo sự phát hiện trống đồng tối cổ ở Hoa trung thì thấy nhiều nhất ở huyện Hưng Văn tỉnh Tứ Xuyên. Còn ở bán đảo Đông Dương thì trống đồng Lạc Việt ở Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ là có danh tiếng hơn cả. F.Heger, nhà khảo cổ học gọi trống đồng Lạc Việt thuộc hạng thứ nhất.

Khảo về dân tộc Bách Việt thời cổ, bao hàm Bách Việt miền Đông Nam với Bách Bộc miền Tây nam Trung Quốc thấy rằng thời cổ xưa khu vực địa lý của nước Thục với Bách Việt vốn liền với nhau.

Theo "Hoa dương quốc chí" q.3 Thục chí:

"Vua Vũ nhà Chu đánh vua Trụ cùng với nước Thục. Đất Thục phía đông liền với nước Ba, phía Nam giáp với nước Việt, phía bắc phân giới với nước Tần, phía Tây gồm núi Ngọ và núi Phồn, đất ấy xưng là Thiên Phủ".

Nước Thục giao thông với bên ngoài rất phát đạt. Sự giao thông ấy lấy Điền (Vân Nam) và đất Kiềm làm chủ yếu, mà sự mở mang đất Vân Nam lại hướng vào nước Thục làm trọng tâm để buôn bán mậu dịch. Vân Nam với Bắc Việt liền tiếp với nhau, từ thời cổ xưa hai miền giao thông rất thịnh, cho nên thời cổ sự giao thông giữa Tứ Xuyên với Bắc Việt chắc hẳn là tấp nập. Bấy giờ miền hạ lưu sông Trường Giang chưa có ảnh hưởng khai hóa của Hán tộc, mãi đến thời Chiến quốc (dân mà người Hán gọi là man di phía Tây trong vùng Tứ Xuyên – Bắc Việt, và "Tây nam di ở Điền, Kiềm (Vân Nam, Quý Châu ngày nay), nước Tần, nước Sở đang đua tranh vũ lực để thôn tính, kết quả là vua nước Sở Trang Kiêu làm vua Điền (Vân Nam) nước Tần, chiếm lấy nước Ba, nước Thục, nước Kiềm tức Quý Châu.

Theo Hoa dương quốc chí q.1 Ba chí viết: "Chu Thuận (Thuyến) làm vua 5 năm (316 tr.cn) vua nước Thục đánh chúa Tư, chúa Tư chạy vào nước Ba, nước Ba xin nước Tàu cứu. Vua Tần Huệ Văn sai Trương Nghi, Tư Mã Thác đi cứu nước Tư, Ba, bèn đánh nước Thục mà diệt đi.

Từ Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm (316 tr.cn) nước Thục mất về nước Tàu, cho đến Chu Báo làm vua 58 năm (257 tr.cn) An Dương Vương là Thục Phán xưng vua ở Việt Nam, thời gian cách nhau là 59 năm. Trong khoảng thời gian ấy, người dân nước Thục chịu sự áp bách của thế lực quân sự nhà Tần, tập đoàn chống đối quân Tân dần dần đi xuống phương Nam, đi vào bắc bộ Việt Nam, cùng với vua Hùng nước Văn Lang đánh nhau tranh dành. Lúc đầu, vì thế lực còn yếu, luôn luôn bị thua, mãi sau mới chinh phục được Văn Lang. Về việc An Dương Vương từ nước Thục đi vào nước Việt, thì sách sử của Tàu và Việt đều không ghi chép lịch trình tiến triển, nhưng cuộc chiến tranh giữa nước Tần và nước Thục có thể tìm thấy dấu vết ở cuộc thiên di về phương Nam của tập đoàn vương thất nước Thục chống đối với nhà Tần.

"Hoa dương quốc chí" q.3 mục Thục chí viết:

Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm, quan đại phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô Uý Mặc cùng theo đường Thạch Ngưu đánh nước Thục. Vua nước Thục từ đất Hạ Manh chống cự, thất bại, vua chạy trốn đến đất Vũ Dương bị quân Tần giết hại. Tướng, Phó cùng Thái tử rút lui về Bàng Hương, chết ở dưới núi Bạch Lộc, họ Khai Minh mới hết, làm vua nước Thục 22 đời."

Lã Sĩ Bằng trong "Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam" suy diễn sử kiện trên đây như sau:

"Xét về việc vua Thục bị ở đất Vũ Dương, ngày nay là Bái Sơn vị trí ở phía nam Thành đô, tên bờ sông Manh khoảng giữa đến như Bàng hương núi Bạch Lộc ngày nay ở đâu thì hông thể tìm xét, chỉ nên hiểu là ở phía nam núi Bành, thế nhân vì quân Tần từ phía bắc xuống miền Nam, tập đoàn ngừơi Thục chống đối quân Tần bị thua mà hướng phương Nam để thoát lui vậy. Từ đấy về sau 59 năm có lịch sử đích thực là vua Thục Phán làm vua Việt. Chúng ta có thể suy định rằng vua Thục bị bại ở Vũ Dương, quan Tướng, Phó, Thái tử đều chết ở núi Bạch Lộc, sau đấy đảng vua Thục còn lại mới suy tôn con hay cháu nhà vua lên tiếp tục chạy về phương Nam, theo hạ lưu sông Manh tiến vào khu đất tiếp giáp giữa Qúy Châu và Vân Nam thuộc phạm vi thế lực người Sở… Nhưng khu đất giao tiếp giữa Quý Châu (Kiềm) và Vân Nam (Điền) thời Hán là Trường Kha là đất thuỷ lảo nghèo nàn. Thục vốn là nước Thiên phủ, người Thục khó ở lâu tại đất ấy được, và thế lực quân Tần đang rất mạnh, dòng dõi vua Thục hết hy vọng khôi phục lại đất cũ mới tìm phát triển về phương Nam tiến vào đất bình nguyên Bắc Việt, khí hậu ôn hòa, nông sản phì nhiêu, cùng với Hùng Vương tranh chiến, nhiều phen thất bại đến đời Chu Bảo Vương năm 518 (tr.cn 257) mới chinh phục được Văn Lang.

"Sách sử Trung Hoa và Việt Nam đều có ghi nhận giai đoạn lịch sử giữa Thục Phán An Dương Vương đánh nhau chinh phục Hùng Vương"

Xem thế đủ biết chắc chắn là có sự cống hiến vào văn hiến nước Việt Nam của nòi giống Bách bộc bên cạnh sự cống hiến của Bách Việt. Sự hiện diện của Bách bộc do Thục An Vương với tập đoàn nhà Thục từ Tứ Xuyên đi xuống qua Quý Châu và Vân Nam phía tây bắc Bắc Việt ngày nay mà di tích là kiểu thành Cổ Loa vốn của nước Ba Thục.

Một khi đã chứng nhận có Thục An Dương Vương vào thế kỷ thứ III trước kỷ nguyên Thiên Chúa thì phải công nhận có Hùng Vương của nước Văn Lang, là chủ nhân đất Bắc Việt trước khi tập đoàn vua Thục Phán chinh phục.

Căn cứ vào kết quả của khảo cổ học của trường Viễn Đông Bác Cổ trước đây ở Thanh Hóa, Bắc Ninh (Bắc Việt Nam), và ở Óc Eo (Nam Việt Nam), giáo sư Olov Janse hội viên của Viện, đã tổng kết về "Việt Nam ngã ba của dân tộc và văn minh" (carrefour de peuples et de civilisations) ed France-Asie Tokyo 1961, tr.1645: "Theo một ý kiến thông thường trước đây thì văn minh Việt Nam hoàn toàn từ lưu vực sông Dương tử di chuyển xuống vào thế kỷ thứ IV tr.cn. Dân mới đến định cư tại Bắc Việt hiện thời đã mang theo một thứ văn hóa lai Tàu để rồi dần dần trở nên mô thức bản xứ. Thuyết ấy thiếu căn cứ, không dựa vào một cơ sở chắc chắn và không được hoặc khảo cổ học, hoặc ngữ học, hoặc nhân chủng học công nhận ấn chứng. Những phát hiện trong khoảng 30 năm gần đây chứng minh trái lại rằng văn minh Việt Nam đã tuần tự phát triển ở miền Bắc Việt và Trung Việt từ những pha trộn chủng tộc và những cống hiến văn hóa mà nguyên lai phải tìm không những ở Tàu mà là ở các biên giới phía Nam lục địa Á châu.

Nếu người ta nghiên cứu về thời gian tính sự thành hình cá tính văn hóa thuần tuý Việt Nam người ta có thể phân thành được ba giai đoạn, mỗi giai đoạn có một đặc tính kỹ thuật nhất định.

Giai đoạn thứ nhất ngày nay gọi là văn minh Đông Sơn bao quát một thời đại giữa kỷ nguyên trước Thiên Chúa đến đầu kỷ nguyên sau Thiên Chúa. Về khu vực địa lý của kỹ thuật này thì thuộc miền tây nam Trung Hoa mà dân cư ở đấy không phải Tàu, bao hàm khắp bán đảo Đông Dương (Indochine) và một phần các xứ ngoại Ấn. Về Việt Nam thì văn minh Đông Sơn phần lớn của dân tộc Proto-Melanésoid Indonesian.

Giai đoạn thứ hai là đặc trưng của kỹ thuật Lạch Trường bao quát đại khái ba thế kỷ trước và sau kỷ nguyên Thiên Chúa. Nó chi phối một khu vực không được giới hạn rõ rệt nhưng gồm một phần tây nam Trung Hoa Bắc Việt và một vài tỉnh trung Việt. Văn minh thời kỳ này là của chủng tộc phần lớn nguồn gốc Thái.

Hai nhóm trên đây ảnh hưởng quyết định không những vào văn minh Việt Nam mà còn vào cả văn minh của nhân dân miền núi hiện đang sinh hoạt ở tây nam Trung Hoa và phần lớn miền Đông Nam Á..

Giai đoạn thứ ba là văn minh Óc Eo mà đặc trưng là kỹ thuật thuộc thời kỳ đầu thế kỷ thứ II sau công nguyên cho đến năm 500. Nó bao quát một khu vực hãy còn chưa định rõ gồm miền nam Việt Nam và cũng phải đã ảnh hưởng ít nhiều vào các dân tộc sinh hoạt thời ấy theo bờ biển phía bắc đến tận Thanh Hóa. Văn minh Óc Eo thuộc hẳn về dân tộc Ấn Độ hay là Indo-Seythe (Nguyệt thị) hình như có giao dịch thông thương trực tiếp hay gián tiếp với miền Cận Đông và Đông La Hy".

Những suy đoán trên đây của nhà khảo cổ học về tiền sử Việt Nam trên dải đất Bắc Việt có vẻ chính xác hơn là những suy luận về tài liệu sử ký Tần.

Tiếp tục công cuộc khảo cổ trên đây của trường Viễn Đông, Viễn Bảo tàng Hà Nội năm 1963 có phát hiện ở vị trí Văn điển gần Hà Nội những dụng cụ thuộc về thời kỳ "Nguyên tân thạch khí" (Upper Neolithic). Và ông Văn Tân đã suy đoán rằng: "Những hình dạng, kiểu thức và kỹ thuật sản xuất của chúng, cũng như những chất liệu nhắc lại những phát hiện ở Phùng Nguyên (Phú Thọ có đền Hùng). Vị trí của nơi phát hiện ở trung tâm trung châu chứng minh rằng 5000 năm về trước Tiên tổ chúng ta đã định cư tại đấy" (The beginnings of archaeology in the Democratic Republic of Việt Nam – Xunhasaba – Hanoi)

Còn về thời đại đồ đồng thì những phát hiện mới đây ở Bắc Việt vẫn theo tài liệu ông Văn Tân dịch thuật ra Anh ngữ trên đây thì:

"Một kho tàng gần 10.000 đầu tên nỏ bằng đồng đã khai quật ở Cổ Loa (kinh đô Thục An Dương Vương gần Hà Nội) ngày 17 tháng 7 năm 1959. Những đầu tên ấy đều lớn khổ, ba cạnh… Tất cả những đầu tên nỏ ấy đều tương tự với đầu tên của người Tàu thời Chiến Quốc (463-200 tr.cn).

Ở vị trí Việt tiên (Phú Thọ) phát hiện năm 1961 trong khoảng đất chu vi 400 thước vuông, người ta thấy những mảnh đất gốm, trang trí rất phong phú, mà đề tài thì tương tự với đề tài trang trí trên đồ khai quật được ở Phùng Nguyên. Hơn nữa, trong sự phát hiện thấy có đến 54,3% đồ bằng đá, điều này chưa từng thấy ởo các vị trí "thời đại đồ đồng" khác. Còn đồ đồng ở đây, phần lớn bị hủy hoại, thì đại khái là đồ nhỏ như lưỡi câu và vòng khuyên hoa tai. Chúng khác hẳn với những đồ phát hiện ở Đông Sơn, do đấy mà có thể kết luận rằng Văn minh Việt tiên (hay Phùng Nguyên) có trước thời Đông Sơn và các thời đồ đồng khác đã được khám phá ở Việt Nam.

Tháng 9 ngày 14 năm 1960 sẩy bờ sông lở ở vị trí Dao Thịnh (Yên Bái, phía trên Phú Thọ) làm xuất hiện một cái cóng bằng đồng có nắp cao 0,84m và rộng 0.7m. Trên sườn có trạm trổ hình thuyền, người và chim (như ở trên trống đồng Đông Sơn) trên nắp có 4 đối tượng, đàn ông đàn bà đang giao hợp… Việt lở núi ngày 24 tháng 9 năm 1962 lại làm xuất hiện một cái trống đồng lớn.

Theo giáo sư khảo cổ học ngừơi Nga là Boriskoswki đã hướng dẫn Viện lịch sử Hà Nội thì sự phát hiện vị trí Núi Do ở Thanh Hóa chứng minh miền ấy là một trung tâm văn minh thạch khí thời đại cổ nhất. Nó xác nhận cái giả thuyết khoa học cho rằng Việt Nam và toàn cõi Đông Dương là một khu vực có lẽ đã là một trong những cái nôi của nhân loại". (thuật theo tài liệu đã dẫn trên)

Kết luận của khảo cổ Bắc Việt hiện thời trên đây cũng phù hợp với kết luận của nhà khảo cổ Mỹ Wihelm G..Solheim đăng tải ở tạp chí National Geographic Vol 139 n.3 tháng 3-1971, dưới nhan đề "New light on forgotten past":

"Tôi đồng ý với Sauer rằng sự thuần thục các thứ cây ở thế giới đã là công trình của nhân dân thuộc văn hóa Hòa Bình ở một địa điểm Đông Nam Á. Tôi không thấy ngạc nhiên nếu sự kiện bắt đầu sớm nhất từ 15.000 năm trước dương lịch.

"Tôi nghĩ rằng những đồ đá sắc cạnh có sớm nhất tìm thấy ở miền Bắc châu Uc 20.000 năm trước dương lịch nguyên lai thuộc Hòa Bình. Người ta hiện biết rằng đồ gốm sớm nhất là thấy ở Nhật Bản khoảng 10.000 tr.cn. Tôi mong rằng khi nào có nhiều phát hiện về văn minh Hòa Bình với đồ gốm có dấu dây thừng được quy định thời đại tính, bấy giờ chúng ta sẽ thấy loại đồ gốm ấy là do dân ở Hòa Bình chế tạo vào trước 10.000 tr.cn.

"Thuyết tập truyền cho rằng tiền sử Đông Nam Á đã di chuyển từ phương Bắc xuống, mang theo những tiến triển quan trọng về nghệ thuật. Tôi thấy trái lại rằng văn hóa Nguyên tân thạch hệ (proto-neolithic) phía bắc Trung Hoa gọi là văn minh Yang-shao đã do trình độ thấp văn hóa Hòa Bình phát triển lên từ miền bắc Nam Á vào khoảng kỷ nguyên thứ VI hay thứ V tr.cn.

"Tôi có ý kiến rằng văn hóa sau này được gọi là Lungshan mà người ta xưa nay vẫn cho nó xuất phát ở Yangshan phía bắc Trung Hoa, rồi mới bành trướng sang phía đông và đông nam, thì thực ra cả hai nền văn hóa ấy đều phát triển từ căn bản Hòa Bình.

"Việc dùng thuyền độc mộc có lẽ đã được sử dụng trên các dòng sông nhỏ ở Đông Nam Á từ lâu, trước kỷ nguyên thứ V tr.cn. Tôi tin rằng việc di chuyển bằng thuyền ra ngoài bể bắt đầu khoảng 4000 tr.cn tình cờ đã đi đến Đài Loan và Nhật Bản đem theo nghề trồng khoai sọ và có lẽ các hoa màu khác.

"Vào khoảng kỷ nguyên thứ III tr.cn các dân tộc Đông Nam Á đã lành nghề đi thuyền mới đi sang các đảo Nam Dương và Phi luật tân. Họ đem theo kiểu nghệ thuật kỷ hà học như các hình vòng tròn, xoáy ốc, hình tam giác và hình chữ nhật vẽ trên đồ gốm, trạm vào gỗ, xâm vào mình, quần áo bằng vỏ cây và sau đến là vải dệt. Đấy là những hình tượng thấy trên đồ đồng ở Đông Sơn (Thanh Hóa) mà có giả thuyết cho nó đã từ Đông Âu đưa đến.

"Dân tộc Đông Nam Á cũng đã di chuyển sang phía Tây, đạt tới Madagascar có lẽ vào khoảng 2000 trước. Có lẽ họ đã cống hiến một số cây thuần thục cho nền kinh tế miền Đông Phi châu.

"Vào khoảng đồng thời ấy có sự tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam và Địa Trung Hải có lẽ qua đường biển do kết quả của việc thông thương. Một số đồ đồng ít thông dụng xác chứng nguồn gốc từ Địa Trung Hải cũng đã được tìm thấy ở địa điểm Đông Sơn".

Kết luận

Với những tài liệu của sử học và khảo cổ học sơ lược trên đây của học giả đáng tin cậy, có quan hệ đến cổ sử dân tộc Việt Nam chúng ta, nay có thể tạm kết luận về "Bốn ngàn năm văn hiến" của nền văn hóa dân tộc. Người ta không còn có thể hoài nghi về di tích Cổ Loa với tên nỏ bằng đồng và triều đại nhà Thục của An Dương Vương vào thế kỷ thứ III tr.cn. Như thế thì cũng không có thể phủ nhận cuộc chinh chiến giữa nhà Hồng Bàng của nước Văn Lang, nước người xâm mình ở di tích Phùng Nguyên tỉnh Phú Thọ, Yên Bái theo bờ sông Hồng Hà ngày nay. Văn hóa Phùng Nguyên đã có đồ đồng đặc biệt là cóng bằng đồng với hình thuyền và người chim trạm trước văn hóa Đông Sơn với đặc trưng biểu hiệu của Trống đồng. Đồ đồng ở đây có trước Trung Hoa 1000 năm, vậy thì Văn Lang, Hồng Bàng hay Lạc Việt ít ra phải có trên 4000 năm văn hiến kể tới nay. Đặc biệt với tinh thần truyền thống dân tộc là cái Trống đồng tiêu biểu cho nền văn hóa Đông Sơn Việt Nam đã từ một dụng cụ kỹ thuật biến thành một đối tượng tín ngưỡng tôn giáo Quốc gia như là một vị Thần linh. Quốc tổ bắt đầu với triều Lý để thành cái Quốc lễ long trọng hàng năm triều đình, từ Vua đến các quan chức đến trước Thần Núi Trống đồng "Đồng cổ sơn thần" để thề trung thành với tổ quốc. Theo Đại Nam nhất thống chí - tỉnh Thanh Hóa chép rằng:

"Ngày xưa vua Hùng đi đánh Chiêm Thành, đóng quân ở núi Khả Lao, đêm mơ thấy thần báo mộng bảo vua: "Xin có cái trống đồng và dùi đồng giúp nhà vua thắng trận phen này!" Đến lúc ra trận thì thấy trên không văng vẳng có tiếng trống đồng rồi quả nhiên Vua được toàn thắng. Vua bèn sắc phong là "Đồng cổ Đại vương". Đời vua Lý Thái Tông khi còn làm Thái tử (1020) vâng mệnh đi đánh Chiêm Thành, đêm mơ thấy một người mình mặc áo nhung, tay cầm bảo kiếm tâu vua rằng: "Tôi là Thần núi Đồng Cổ xin theo để lập công cùng Thái tử".

Tới khi bình định được giặc liền lập miếu để thờ. Sau khi thái tử lên ngôi lại mộng thấy Thần mang bài thơ đến bảo cho biết là có ba vị vương định gây loạn, sau cả quả nhiên có thật. Nhân thế mới phong chức "Thiên hạ minh chủ" thăng lên làm Thượng đẳng Thần, và hàng năm đắp đàn ở trước cửa đền sai các quan đến lễ và đọc lời thề: "Đạo làm dân một nước, làm con một nhà cốt ở luân thường! Làm con, mà bất hiếu, làm dân mà không hết lòng yêu nước, xin Thần linh ngầm xét, tiêu diệt cả họ!"

Ngày nay, nghĩa là trước năm 1945, theo tường thuật của Victor Goloubew (BEFEO t.33-1933) chùa Đồng Cổ trên con đường đi Phủ Quảng, gần bến đò Yên Định sông Mã. Chùa là một ngôi Đình kiến trúc khá xưa. Cái trống đồng để thờ trong chùa ấy được đặt trên cái giá gỗ trạm và sơn son tại trong cung cấm đình trong, bề kính, 0.85m bề cao 0.58m.

Bên cạnh Trống có cái biểu gỗ khắc chữ. Đây là bản dịch của Trần Văn Giáp:

"Tại phía Tây tỉnh Thanh Hóa, ở làng Đan nê, huyện Yên Định có ngọn núi Đồng Cổ. Ba ngọn hình ngôi sao cho nên cũng lại gọi là núi Tam thai. Trong thung lũng, gần núi ấy có ngôi đền cổ thờ Thần. Núi mà uy linh đã nổi tiếng là huyền diệu.

"Mùa xuân năm Canh Tuất (1790) theo mệnh của đức vua cha, tôi nhậm chức cai quản hạt tỉnh lỵ biên thuỳ này. Trong khi ấy dân miền núi nổi lên khiến tôi phải cầm quân hai lần dẹp giặc. Đi qua hạt này, tôi thường hay nghỉ chân trong đền và tôi có kêu cầu Thần linh. Nhờ quyền năng vô hình, quân cảu tôi tấn công được dễ dàng. Biết có thần linh đã che chở, tôi tra hỏi các bô lão trong làng để được hiểu biết ít nhiều về vị thần cũng như về cái Trống Đồng, nhưng thiếu tài liệu ký chú, tôi không được biết chi hết, thời giai đã nhòa tátcả di tích quá khứ trong ký ức mọi người.

"Vào năm Canh Tuất (1800) hai ngày trước ngày hội vào 9 tháng 9 sự tình cờ khiến tôi tìm thấy trên bờ sông phía Nam một cái trống đồng, cao 0.56m và rộng 0.75m, còn nguyên vẹn, công trình khuôn đúc tỉ mỉ công phu nhưng về nguyên lai vẫn mù tịt.

"Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1802) torng khi đi giám sát,tôi lại đến bái yết ngôi đền, và khi trở về tôi có ra lệnh cho Quận công Tá trị Trương Hữu Tá và cho Xuân Hoa Nguyễn Xuân cho rước cái trống đồng để dâng cúng cho đền thờ Thần".

(Bản văn viết vào năm Bảo Hưng thứ 2 (1812) của em vua là Đức Tuyên, thanh tra chính trị tỉnh Thanh Hóa, do Trần Đình Hựu khắc viết vào gỗ bởi tay Quán quan sự Hoàng Đình Đồng).

Ở trên núi Tam thai nói trên đây còn một tấm bia mới dựng để kỷ niệm ngày vãn cảnh chùa của ông Pierre Pasquier. Lời bia dịch ra như sau:

"Trải qua các thế hệ chúng ta đã kính thờ thần Đồng cổ. Tiền nhân truyền lại cho chúng ta biết rằng vào thời Hùng Vương (265 tr.cn) nhà vua có cầm quyền dẹp giặc, và dưới triều vua Lý (1028-1253) để thuần phong mỹ tục nhà vua có lập tòa án để phạt kẻ phạm phép. Sơn Thần Đồng cổ là đệ nhất Thượng đẳng Thần cai quản thế gian và bảo vệ hòa bình, nhân loại.. Nhờ những công lao phò trợ ấy mà các Đế vương các triều đại đã ban sắc phong cho Thần. Danh tiếng của Thần được lan truyền từ ba bốn ngàn năm nay, do đấy mà nhân dân sâu lắng chúng tôi đều muốn phụng thờ Thần linh quyền năng siêu việt".

Đấy là nét trọng yếu Thần đạo và Phật đạo, Đình với Chùa hợp nhất dung thông trong tin tưởng vào một nước "Bốn ngàn năm văn hiến" mà nhân dân Việt Nam ngày nay đòi trở về nguồn tổ Hùng Vương để biểu dương tinh thần dân tộc bất diệt vậy.


TÌM HIỂU VỀ ÂM DƯƠNG LỊCH
Ngày nay dân Việt đi đấu tranh không những là lấy lại nước, mà còn phải phục hồi lại văn hóa, đòi lại những văn hóa hay nền văn minh cổ của tổ tiên Việt tộc ta đã bị rợ giặc Tàu Hán cưỡng chiếm và cướp đoạt cả ngàn năm qua, gồm có: Kinh Dịch, Nho học, Âm Lịch..
Sau đây xin trích một vài đoạn từ trong sách "Thời Hùng Vương & Bí Ẩn Lục Thập Hoa Giáp" của Nguyễn Vũ Tuấn Anh liên quan đến vấn đề, để mọi người suy gẫm..
".. Những ai mà thời thơ ấu chưa quên trò chơi "Rồng rắn lên mây" mới cảm nhận được sự kỳ vĩ của nền Văn Minh VĂN LANG. Chiếc chìa khóa của những kho tàng trí tuệ ấy không bao giờ thuộc về những kẻ chiến thắng (tức Tàu Hán), chiếc chìa khóa ấy thuộc về những thế hệ tương lai của người LẠC VIỆT với những cố gắng tìm về cội nguồn của chính mình. Những nền tảng căn bản của nền văn hóa cổ Đông Phương là nền VĂN MINH VĂN LANG, chắc chắn sẽ được chứng tỏ. Một di ấn của tổ tiên đã nhắc nhở điều này. Đó chính là truyện TRÊ CÓC.
Bầy con của Cóc - Nòng Nọc - biểu tượng của nền văn minh Khoa Đẩu đã bị con cá Trê lấy mất. Vì Cóc không ở dưới nước, tức là đã mất nước, cho nên không còn cách nào để giành lại bầy con mà Trê đã lấy đi nhận làm con của mình. Cóc chỉ còn nghiến răng uất hận kêu trời. Nhưng Nhái Bén đã an ủi Cóc hãy chờ đợi cho đến khi Nòng Nọc trở thành Cóc thì con của Cóc lại trở về với Cóc.
Tức là sự phát triển của tự nhiên, đời sống, xã hội và con người đến một lúc nào đó sẽ trả lại cho bà Nữ Oa (mẹ Cóc) đàn con của bà. Nền văn minh khoa đẩu kỳ vĩ của đất nước VĂN LANG sẽ phải trở về với cội nguồn của nó, tức là thuộc về dân LẠC VIỆT, tổ tiên của người Việt Nam hiện nay..
... Dấu Vết Xa Xưa của ÂM DƯƠNG LỊCH
ÂM DƯƠNG LỊCH là một loại lịch được sử dụng phổ biến ở khắp xã hội Đông phương cổ, còn tồn tại đến tận bây giờ với thời gian tính bằng thiên niên kỷ.
Sự độc đáo của Âm Dương Lịch phương Đông khiến nó khác hẳn các loại lịch khác trên thế giới là: không phải chỉ có sự phân định thời gian dựa trên sự vận động cơ học thuần túy của một số thiên thể trong Thái Dương hệ, mà nó có hẳn một hệ thống lý thuyết liên quan tới nó. Đó là thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH được thể hiện trong Âm Dương lịch từng năm, tháng, ngày và thậm chí đến đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ. Trên cơ sở nạp âm ngũ hành và phân định Âm Dương trong Âm Dương lịch, người phương Đông cổ đại đã không chỉ dùng Âm Dương lịch như một công cụ phân định thời gian thuần túy và sử dụng duy nhất chỉ trong nông nghiệp. Họ còn sử dụng Âm Dương lịch để tính toán những hiệu ứng vũ trụ qua sự nạp âm Âm Dương Ngũ Hành, trong hầu hết những sinh hoạt chủ yếu của xã hội như: Đông y, dự đoán thời tiết, thậm chí cả dự đoán tương lai một cách sâu sắc vi diệu.
Bằng những phát minh mới nhất, khoa vũ trụ học hiện đại ngày càng tìm ra được những hiệu ứng vũ trụ từ những vụ nổ của mặt trời, sự ảnh hưởng của từ trường trái đất, lực hấp dẫn của các thiên thể mà cụ thể là sức hút của mặt trăng, tác động lên cuộc sống của trái đất. Nhưng, những hiệu ứng vũ trụ ở một qui mô lớn, vi diệu hơn và cũng đầy bí ẩn, lại được nhắc tới rất nhiều trong các cổ thư của nền văn minh Đông phương, đặc biệt là trong Đông y. Sự ảnh hưởng của những hiệu ứng vũ trụ này đã được tính tới đơn vị thời gian là giờ trong việc điều trị bệnh, thậm chí cho từng loại bênh. Điều này đã được ứng dụng trong hàng thiên niên kỷ trước đây, cho đến tận bây giờ vẫn còn tồn tại ở khoa châm cứu. Người xưa phát hiện những hiệu ứng vũ trụ, trên cơ sở sự vận động của các thiên thể gắn liền với phương pháp luận của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Từ đó, họ đã suy ra những ảnh hưởng của nó với đời sống trái đất. Bạn đọc tham khảo đoạn văn sau đây được trích trong "Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn" chứng tỏ điều này:
"Thường chính của Thái dương tự thiên này, khí hóa vận hành ở tiên thiên, khí trời lạnh, khí đất yên lặng, khí lạnh tràn ngập thái hư. Thái dương không thi hành được chính lệnh. Thủy với Thổ hợp đức, trên ứng với trăng sao, loài cốc ấy đen vàng, lệnh của nó thong thả, hành chính phát triển nhiều, nơi đầm không có lưa Dương nên Hỏa phát phải đợi thời. Thiếu Dương chủ trị ở khoảng giữa mà trời mưa không ngớt. Đến cực thì tạnh, rồi lại quay về Thái âm. Mây về cực bắc, ẩm hóa phân bố thấm nhuần vạn vật, lạnh khắp ở trên, sấm động ở dưới, khí của lạnh ẩm cùng giao với nhau. Do đó, dân sinh bệnh lạnh ẩm, cơ nhục nhão nát, chân bại không cử động được, huyết ứ ngưng trệ."
Thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã bị thất truyền, những khái niệm của nó trở nên khó hiểu, cái nhìn của người xưa khác thời nay. Cho nên nhiều ý tưởng của người xưa không lý giải được trở thành bí ẩn.... Tuy nhiên, qua đoạn trích dẫn ở trên bạn đọc cũng nhận thấy: dấu ấn của Âm Dương Ngũ Hành liên quan tới sự vận động của vũ trụ, ảnh hưởng đến đời sống trái đất và chi tiết hơn, ảnh hưởng đến cả những bệnh cụ thể ở con người.
Sự hiện diện của Âm Dương Ngũ Hành trong ÂM DƯƠNG LỊCH đã chứng tỏ trên thực tế:
Phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ Hành chính là một trong những tiền đề cho việc tạo ra ÂM DƯƠNG LỊCH (Âm Lịch)." [Thời Hùng Vương & Bí Ẩn Lục Thập Hoa Giáp, NVTA].
'... Mỗi người đều có một khoảnh khắc đầu tiên xuất hiện trong không gian vũ trụ: đó là lúc bắt đầu sinh ra - ngày sinh - sinh nhật. Khoảnh khác độc nhất này cá biệt hóa số phận cuộc đời của một người. Để xác định vị trí xuất hiện độc nhất đó, các nhà Dịch học xưa đã hình thành công cụ đo không gian thời gian trong vũ trụ mênh mông, đó là: LỊCH CAN CHI (tức Âm Lịch).
Để đo không gian và thời gian, các nhà Dịch học xưa dùng hai "thước đo" là: HÀ ĐỒ & LẠC THƯ.... Hà Đồ là thước đo chỉ 4 hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc. Còn Lạc Thư chỉ 8 phương hướng..
Cái mốc để đo các vị trí không gian và thời gian, người phương Đông đã tạo ra LỊCH CAN CHI có kèm theo LỊCH TIẾT KHÍ. Những yếu tố này có trong Âm Dương Lịch đang được lưu hành và sử dụng, như Lịch Vạn Niên, Hoàng Lịch, Niên Lịch.. [Bát Tự Hà Lạc của Bùi Biên Hòa].
".. Âm Dương tạo hóa có ngày có đêm, thế gian lợi lộc, thất thiệt không phải là ngẫu nhiên. Tương lai không thể nào xoay chuyển được. Ta tồn tại với đời. Trời ở trong ta và được ta gọi tên.
Suy nghĩ thông thường, 12 người cùng sinh ra trong một ngày thì không dự đoán nổi. Bởi vì các ngôi sao không hiện ra lúc gần lúc xa, mặt trăng mặt trời không cố định, mệnh số của 12 người không giống nhau, lành dữ thọ yểu thay đổi giống như sinh vật: tùng một loại, trúc một loại, hoặc nghìn hoặc vạn, đồng thời khí hấp thụ cũng khác nhau. Cây cối trong thiên nhiên, có cây tươi, cây khô, cây cao, cây thấp, cây cong, cây thẳng, bị chặt hay sống nhiều năm cảnh ngộ có khác nhau. Khi mệnh trời giống nhau thì chết cũng giống nhau. Tham khảo vận trời đất có liên quan đến số thịnh suy, thời gian phải hàng trăm năm. Nếu nhanh là 10 năm, mà phát thì hết sức phi thường. Cái qúy của trời đất là ít khi xuất hiện, bí mật của qủy thần người đời đời có thể biết được. Ô hô ! Sách ta bàn về số mệnh làm sao có thể bỏ được". [Văn Thiên Tường]

".. Ở nước ta hiện nay, trong hệ thống hoạt động hành chính nhà nước, các văn bản giao tiếp kinh tế, chính trị, xã hội thì hệ thống DƯƠNG LỊCH là cơ sở để xác định các mốc thời điểm hoạt động, nhưng còn trong sinh hoạt văn hóa truyền thống thì hệ thống ÂM LỊCH lại là căn cứ không thể thiếu. Ngay trong sản xuất nông nghiệp hiện nay cũng không thể thiếu những căn cứ của Lịch Âm. Người nông dan làm ruộng xưa nay, bảo nhau:

Tua rua đi rắc mạ mùa

Tiểu thử đi bừa cấy ruộng nông sâu

Hàn lộ lúa trỗ bằng đầu

Lập đông ta quyết về mau gặt mùa.

Trong sinh hoạt lễ hội truyền thống người ta nhắc nhau:

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ TỔ mồng Mười tháng Ba

Hay là:

Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ.

Còn khi xuất hành, mưu việc thì người ta tính ngày tính giờ với những câu truyền miệng, đại loại như:

Mồng năm, mười bốn, hăm ba

Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn

Hoặc,

Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba.

Những phép định ngày, tính tháng như thế đều theo phép tính lịch (Âm) truyền thống xưa ở nước ta. Chắc chắn trong các văn bản nhà nước hiện nay không ai lại đi ghi ngày tháng Âm Lịch hay hệ đếm CAN CHI với những tiết Mạnh, Trọng, Qúy, nhưng chắc hẳn cũng không ai đi tính ngày lễ, tết, hội hè của dân tộc, ngày giỗ tiên tổ bằng ngày Dương Lịch.

Thế thì sự tồn tại của một cuốn Âm Lịch là không thể thiếu với mỗi người, mỗi nhà. Chừng nào còn con người Việt nam, còn văn hóa truyền thống Việt Nam thì chừng ấy vẫn còn cần có hệ thống ÂM LỊCH trong các tờ lịch của mỗi nhà." (Trích Âm Dương Đối Lịch)


Trê cóc tranh con (Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

Bức tranh này chính là minh họa lại “Truyện Trê và Cóc” đã lưu truyền rất lâu trong dân gian. Truyện rằng: Vợ chồng nhà Trê rất giàu có nhưng già rồi mà vẫn chưa có con. Một hôm, Trê gặp bầy nòng nòng đang bơi tung tăng liền bắt về nhận làm con mình. Vợ chồng nhà cóc vốn nghèo khó, đông con nhưng rất thương yêu chúng. Không thấy bầy con đâu, liền đi tìm thì biết rằng đàn con đã bị vợ chồng nhà Trê bắt về nên đã đi kiện quan. Trê một mặt đút lót quan, một mặt lí sự rằng nòng nòng sống dưới nước, màu đen, thân hình giống trê hơn; cóc sống trên bờ, thân hình lại khác nòng nòng hoàn toàn. Quan xử Trê thắng kiện. Vợ chồng nhà Cóc oan ức vì mất con chỉ còn biết nghiến răng uất hận mà kêu trời. Nhái bén an ủi Cóc đừng buồn vì khi lớn lên, nòng nọc sẽ trở thành cóc thôi. Quả như vậy, sau một thời gian, đàn nòng nòng con đứt đuôi, mọc chân lột xác thành cóc mà nhảy lên bờ đoàn tụ với cha mẹ.

Có thể nói: Câu chuyện là một biểu tượng tuyệt vời, ẩn chứa mật ngữ, có tính tiên tri, cho biết nền văn minh khoa đẩu (nòng nọc) đã bị khuất lấp dưới một hình thức khác (con của Trê). Cóc không ở dưới nước (tức là đã mất nước), nên không thể chứng minh được nòng nọc là con của mình. Nhưng bản chất của sự vô lí (nòng nọc không phải con của Trê), cuối cùng cũng sẽ được sáng tỏ trong qui luật tiến hóa, phát triển của tự nhiên. Đây là hình tượng độc đáo của câu chuyện có tính tiên tri, cho biết: sự tiến hóa, phát triển toàn diện về mọi mặt trong các mối quan hệ xã hội mà nền tảng là sự tiến bộ của khoa học hiện đại – trong đó mũi nhọn của khoa học hiện đại chính là khoa học lí thuyết – mới là điều kiện cần và đủ để minh chứng cho sự kì vĩ của nền văn minh khoa đẩu với quốc gia đầu tiên là nhà nước Văn Lang. Tính tiên tri đó được thể hiện rõ ràng ở hai câu thơ được đề trong tranh:

“Giỏ ai quai nấy rành rành
Giương vây già thách tranh giành chẳng xong”


tranbinhkb
Bài viết này tóm lược và bổ sung thêm bài “Tranh Trê và Cóc” trong sách “Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam” của Nguyễn Vũ Anh Tuấn, Nxb.

Nói về tranh "Thầy đồ cóc" nhân ngày Hiến chương các nhà giáo

(BOONG Online): Đây là một bức tranh khá phổ biến thuộc dòng tranh dân gian làng Đông Hồ. Hầu như khắp chợ cùng quê, với những người lớn tuổi, nếu ai chưa một lần nghe kể chuyện “Thầy đồ Cóc” thì chắc cũng đã một lần xem tranh “Thầy đồ Cóc”. Vào những phiên chợ Tết, những bà mẹ Việt Nam thường mua cho con bức tranh này với hy vọng con mình sẽ chăm chỉ học hành, ngày một thông minh sáng lán. Đương nhiên là phải vinh qui bái tổ, góp mặt với đời. Trong bức tranh là cả một thế giới của cóc, nhái, ễnh ương rất nhộn nhịp trong lớp học với một thầy ếch lớn ngồi chễm chệ trên chiếc sập đang dạy học. Hình tượng sinh vật, nhưng chúng lại có hành động nhân cách hóa như người. Trên bức tranh có dòng chữ “Lão Oa độc giảng”. Tức là ông Ếch một mình giảng dạy (Oa có thể dịch là “ếch”, nhưng trong dân gian vẫn gọi tranh này là “Thầy đồ Cóc”, chữ “độc” trong tranh dịch là đọc, nhưng cũng đồng âm với “độc” là cô độc, một mình).

Tại sao cha ông ta lại chọn hình tượng Cóc mà lại không phải là sinh vật khác?

Hình tượng con cóc đã tồn tại và phổ biến từ rất lâu trong nền văn hiến Lạc Việt. Đối với những nhà nghiên cứu hoặc những ai đã từng nhìn thấy những chiếc trống đồng, thạp đồng Lạc Việt chắc không quên hình ảnh con cóc trên những vật thể này. Cóc đã từng oai vệ với vai trò là “cậu ông trời” trong các câu chuyện dân gian Việt Nam, Nhưng trong bức tranh dân gian này, cóc chỉ khiêm tốn làm một ông giáo già ngồi dạy học. Nếu chúng ta trở ngược thời gian về cội nguồn của nền văn minh Đông phương từ hơn 2000 năm trước, sẽ thấy rằng văn tự dùng trong nền văn minh Lạc Việt là chữ “khoa đẩu”, mà di ấn còn ghi lại trên bãi đá cổ Sa Pa. Chữ khoa đẩu là kiểu chữ hình con nòng nọc, còn ghi dấu ấn trong các cổ thư lưu truyền trong văn minh Đông phương như: truyện Thủy Hử, sách Thông chí của Trịnh Tiều, trong những di vật đào được ở Ân Khư – thủ đô nhà Ân Thương của Trung Hoa cổ. Với chữ khoa đẩu tìm thấy trong di vật ở Ân Khư, người viết đã có dịp minh chứng với bạn đọc : đó chính là chiến lợi phẩm trong cuộc chiến Văn Lang và nhà Ân, được nhắc tới trong truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương. Chữ khoa đẩu trong di vật ở Ân Khư chỉ là một hiện tượng riêng lẻ, về hình thức khác hẳn hình thức chữ Hán, trong suốt hàng ngàn năm lịch sử của nền của văn minh Hoa Hạ. Khoa học hiện đại đã chứng tỏ rằng: tất cả những nền văn minh phát triển đều phải có chữ viết. Do đó, sự hiện hữu của văn khoa đẩu đã chứng tỏ nó ra đời trong một nền văn minh phát triển. Bởi vậy, nếu nền văn minh Hoa Hạ đã từng sử dụng chữ khoa đẩu như một dạng văn tự chính thống và ghi lại cả một giá trị tri thức to lớn của nền văn minh này, thì người ta không thể nào giải thích được sự thay đổi kí hiệu chữ viết từ văn khoa đẩu sang dạng chữ Hán trong quá trình phát triển liên tục của nền văn minh đó. Điều này chỉ có thể giải thích rằng văn khoa đẩu không thuộc về văn minh Hoa Hạ. Sự hiện hữu mờ nhạt của chữ khoa đẩu trong văn minh Hoa Hạ chỉ có thể giải thích một cách hợp lí là nó thuộc về một nền văn minh khác đã bị Hán hóa. Những bản văn cổ chữ Hán đã nhắc tới văn khoa đẩu như sách trời (Thủy Hử), hoặc khẳng định nó thuộc về văn minh Lạc Việt (Thông Chí của Trịnh Tiều), đã chứng tỏ rằng chữ khoa đẩu là chữ viết chính thức của nền văn minh Lạc Việt. Chữ khoa đẩu đã khẳng định giá trị văn hiến trải hàng ngàn năm của nền văn minh Lạc Việt, đó là điều kiện để bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của nền văn minh này.

Bức tranh “Thầy đồ cóc” là chính là một mật ngữ hướng thế hệ con cháu tìm về nguồn cội của tổ tiên. Bởi vì, khoa đẩu tức chữ hình con nòng nọc. Như vậy chỉ có Cóc hoặc cùng loài mới có con gọi là nòng nọc. Hay nói một cách khác: chỉ có cóc mới có chữ để dạy cho đời. Cho nên ông Cóc mới độc quyền trong sự giảng dạy. Đó chính là ý nghĩa của bức tranh dân dã này.

Chú thích: Bài viết này tóm lược lại các ý chính của bài “Thầy đồ cóc” trong sách “Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam” của Nguyễn Vũ Anh Tuấn, Nxb. VHTT, HN, 2002.