LTS: Những bài vở trên đây không nhất thiết là quan điểm của diễn đàn. Mục đích để đóng góp tài liệu tham khảo, tài liệu lịch sử làm phong phú thêm trí tuệ, làm sáng tỏ sự thật, vạch trần tội ác tập đoàn việt gian Cộng Sản. tội ác tên Giặc Hồ Chí Minh và bè lũ tay sai việt gian bán nước đã cố tình bưng bít, dấu kín, xuyên tạc lịch sử Việt Nam, giết hàng chục triệu người dân vô tội, bỏ tù hàng triệu quân cán chính VNCH, bán đất dâng biển, làm nô lê cho Tàu, Nga..v.v..
" Hiểu một thời đại nghĩa là phải lấy con tâm và con mắt lịch sử, nghiệm qua các thời đại để mà đứng trên nền tảng với điều kiện đó để mà hiểu thời đại đó.""[HH-trang45]
" Để phục hưng và phục hoạt, phải lấy một con mắt nghiêm ngặt Việt, đứng siêu nhiên trên lập trường Việt, thi thiết bằng những chính sách và kế hoạch siêu nhiên và nghiêm ngặt, có một thái độ nghiêm ngặt và siêu nhiên lịch sử Việt."[HH-trang45]



HOME-Tro Ve Trang Chinh




Friday, December 3, 2010

Nguyễn Xuân Quang-ĐỘNG ĐÌNH HỒ (Phần 1)

ĐỘNG ĐÌNH HỒ (Phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

LTG

.Bài viết về hồ Động Đình này gồm hai phần: một phần là Hồ Động Đình nhìn tổng quát và một phần là hồ Động Đình và truyền thuyết Việt.

.Cám ơn anh Nhạn Nam Phi, Đỗ Ngọc Thành, một nhà khảo cứu chữ Hán và chữ Nôm cổ Bách Việt đã giúp chuyển các bài thơ chữ Hán qua Hán Việt và Việt ngữ cũng như đã góp ý.

Trên con đường Đi Theo Dấu Chân Quốc Tổ Đại Tộc Việt để khảo cứu về nguồn cội, tìm cái căn cước Việt khởi đầu đi từ truyền thuyết vua thế gian đầu tiên Kì Dương Vương của nước Xích Quỉ (Người Mặt Trời) lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình sinh ra Lạc Long Quân, trước tiên chúng tôi tìm về hồ Động Đình. Theo truyền thuyết hồ Động Đình là cội nguồn của Đại Tộc Việt, của Bách Việt. Từ Los Angeles, chúng tôi tới Thượng Hải làm bàn đạp xuống Trường Sa (Changsha), tỉnh Hồ Nam để rồi tới hồ Động Đình. Tiện thể chúng tôi cũng thăm viếng Triển Lãm Quốc Tế Thượng Hải 2010.

Theo Lĩnh Nam chích quái thì biên cương phía bắc của nước Văn Lang lên tới hồ Động Đình, xa hơn các đỉnh Ngũ Lĩnh vài trăm dặm về phía Bắc..

Cũng nên biết Lĩnh Nam là phần đất phía nam của rặng núi Nam Lĩnh (rặng núi Lĩnh ở phía nam), một trong năm ngọn núi Lĩnh gọi là Ngũ Lĩnh. Lĩnh Nam gồm những vùng phía nam tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, một phần Vân Nam và miền Bắc Việt Nam. Ngày nay Quảng Châu thủ phủ của Quảng Đông vẫn còn dùng từ Lĩnh Nam để tự gọi mình.

Trường Sa (tiếng Hoa giản thể: 长沙; tiếng Hoa phồn thể: ; pinyin: Chángshā; Wade-Giles: Chang-sha), thủ phủ tỉnh Hồ Nam. Tỉnh này nằm ở phía nam hồ Động Đình nên mới có tên là Hồ Nam. Trong khi Hồ Bắc ở phía bắc hồ Động Đình (cần phân biệt với Hoa Nam và Hoa Bắc).

Trường Sa có diện tích: 11.819 km², dân số 6.017.600 (theo thống kê dân số năm 2003).

Di tích khảo cổ học cho thấy hơn 3.000 năm trước đã có cư dân sống ở đây. Đến năm 202 Trước Tây Lịch, đây đã là một thành kiên cố. Thời nhà Hán đây là kinh đô của Vương quốc Trường Sa. Trong thời Tam Quốc, Trường Sa là một chiến trường ác liệt. Thời nhà Tùy, Trường Sa là một huyện.

Trường Sa ở hạ lưu sông Tương Giang (湘江) hoặc Tương Thủy (湘水), một nhánh sông Dương Tử (Trường Giang). Tương Giang bắt nguồn từ huyện Lâm Quý của khu tự trị của tộc Tráng (Zhuang), ở Quảng Tây.

Ngoài hồ Động Đình ra, Hồ Nam có vài nơi cần thăm viếng như Bảo Tàng Viện nổi tiếng thế giới Đồi Mã Vương (馬王堆, Mawangdui), Bảo Tàng Viện Mao Trạch Đông ở Trường Sa và đi xa hơn (khoảng 270 km) là khu nghỉ mát thần tiên, kỳ vĩ Vũ Lăng Nguyên (Wúlingyuán) đã được UNESCO nhận là Di Sản Thế Giới. .

Ngày đầu chúng tôi ghé thăm Bảo Tàng Viện Mã Vương Đồi. Khu đồi cao Mã Vương là khu mộ cổ nhà Tây Hán (khoảng 186-165 Trước Tây Lịch). Mộ bắt đầu được khai quật vào thập niên 1970, trong đó có thi hài của bà Tân Truy ( ) được ướp vẫn còn trong tình trạng tốt. Người ta cũng tìm thấy trong mộ phiên bản sớm nhất của Đạo Đức Kinh do Lão Tử viết. Đây là một bảo tàng viện báck khoa của thời Tây Hán (sẽ có bài viết riêng về Bảo Tàng Mã Vương Đồi).

Sau đó tới thăm Bảo Tàng Viện Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông bắt đầu sự nghiệp chính trị ở Trường Sa. Ông đã học ở Trường Sư Phạm Số 1 Hồ Nam từ 1913 đến 1918. Sau đó ông trở thành giáo viên rồi hiệu trưởng từ 1920-1922. Văn phòng làm việc của ông tại trường thời đó nay dùng làm bảo tàng. Bảo Tàng Viện Mao ở đây rất khiêm tốn và không trưng bầy một chút gì về cuộc đời chính trị sau này.

Ngày hôm sau chúng tôi lên đường tới hồ Động Đình. Đây là chủ đích của chúng tôi. Đến Trường Sa mục đích chính là để tiếp cận hồ Động Đình.

Tìm về hồ Động Đình với một tâm hồn đầy ắp huyền thoại Bách Việt như đi vào một giấc mơ, đi trong huyền thoại trở về nguồn cội từ thuở khai thiên lập địa, từ thuở hồng hoang, từ thuở khai sinh của dòng giống Xích Quì, dòng giống Bách Việt.

Hồ Động Đình (chữ Hán: 洞庭湖; phiên âm: Dòngtíng hú; Wade-Giles: Tung-t'ing Hu) là một hồ lớn, ở phía Đông Bắc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Hồ Động Đình là một thứ biển hồ điều hòa lưu lượng nước của sông Dương Tử tương tự như biển hồ Tonlé Sap điều hòa lưu lượng nước của hạ lưu sông Mekong ở Campuchia. Kích thước của hồ phụ thuộc vào mùa, nhưng về tổng thể hiện nay là hồ nước ngọt có diện tích lớn thứ nhì tại Trung Quốc sau hồ Bà Dương. Thật ra ngày xưa, về thời nhà Hán, với đầm lớn Vân Mộng (雲夢大澤 - Vân Mộng đại trạch) nằm ở phía bắc hồ Động Đình, ở tỉnh Hồ Bắc, Động Đình là hồ lớn nhất Trung Quốc và được gọi là Bát bách lý Động Đình (八百里洞庭 - Hồ Động Đình tám trăm dặm). Ngày nay, một phần hồ đã biến thành đất trồng trọt nên Động Đình mới trở thành hồ lớn thứ hai sau hồ Bà Dương (鄱陽湖).

Hồ lớn nhất vào mùa nước lũ tháng 7–9 từ sông Dương Tử đổ vào hồ. Diện tích bình thường của hồ từ 2.820 km² có thể tăng lên 20.000 km² vào mùa nước lũ.

Ngoài sông Dương Tử, hồ còn được bốn con sông khác đổ nước vào là các sông Tương Giang (湘江),Tư Giang (資江), Nguyên Giang (沅江) và Lễ Thủy (澧水). Ngoài ra, sông Tiêu () đổ vào sông Tương gần Trường Sa trước khi sông Tương đổ vào hồ vì thế khúc sông này còn gọi là Tiêu Tương. Sông Tương, Tiêu Tương là những con sông nổi tiếng được nói tới rất nhiều trong văn thơ Trung Hoa và cả Việt Nam. “Sông Tương một giải nông sờ...”. Hồ Động Đình phong cảnh thần tiên được mệnh danh Tiêu Tương Hồ Nam (瀟湘湖南 - vùng Hồ Nam của sông Tiêu và sông Tương).

Tỉnh Hồ Nam là châu thổ sông Tương nên Hồ Nam có khi gọi tắt là Tương theo tên con sông nổi tiếng này. Sông Tương thường liên kiết với những sự chia ly. Tương trúc là thứ tre đốm quí ở tỉnh Hồ Nam, đốm có hình giọt nước mắt (xem dưới). Truyền thuyết Việt cũng ghi rằng Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay nhau ở cánh đồng Tương...

Tàu thuyền lớn có thể đi từ sông Tương tới Trường Sa. Rất tiếc hồ Động Đình ngày nay đã thương mại hóa nhiều.

Giữa hồ có một đảo lớn tên là Quân Sơn (Junshan, 君山). Ngày trước phải dùng thuyền tầu từ bến bên Lầu Lạc Dương hay Nhạc Dương (YueYang) đi qua đảo, mới đây một cây cầu vừa xây xong nối từ bờ ra tới đảo.

Tiện đường xe từ Trường Sa tới, chúng tôi dùng cầu ra thăm đảo trước rồi mới tới thị trấn Lạc Dương thăm Lầu Lạc Dương bên bờ hồ.

ĐẢO QUÂN SƠN

Đảo quân Sơn nguyên gốc gọi là núi Động Đình hay Tương Sơn (Xiangshan). Đảo cách thành phố Lạc Dương ở bên bờ hồ 13 cây số với chiều rộng 1 km và có 72 đỉnh núi, 36 đình quán và 48 đền.

Phong cảnh ở đây đi cùng với hồ Động Đình thật thần tiên như chốn bồng lai tiên cảnh, đã nổi danh hàng ngàn năm nay. Tương truyền rằng ngày xưa có tiên xuất hiện ở đây. Cảnh sắc thay đổi theo bốn mùa. Về mùa xuân hoa cỏ muôn mầu muôn sắc. Mùa hạ, trời quang mây tạnh, là lúc ta thấy rõ toàn cảnh của hồ. Mùa thu sương khói huyền ảo như chốn thiên thai. Đêm về ngắm ánh trăng thu huyền ảo, văng vẳng nghe tiếng hát câu hò của người dân chài trong thinh lặng. Mùa đông là lúc những loài di điểu trở về.

ngàn ven hồ, phất phơ lay nhẹ trong gió thu.

Gần trưa rồi mà khói sương thu còn mịt mù trên mặt hồ.

Khói sương thu huyền ảo, mịt mù trên mặt hồ Động Đình (ảnh của tác giả).

Cảnh sắc huyền ảo như trong một bức tranh sơn thủy. Phong cảnh núi Cửu Nghi (九嶷山) và hai con sông Tiêu, Tương dưới chân núi thường được nhắc đến trong thơ Trung Quốc. Vào thời nhà Tống, việc vẽ tranh phong cảnh vùng này thành một bộ tám bức đã trở thành một trào lưu. Trào lưu này đã lan sang Nhật Bản, nơi những địa điểm nổi tiếng khác đã được thay thế cho sông Tiêu và sông Tương (vi. wikipedia).

Đứng bên hồ mênh mông như biển vũ trụ mà thấy lòng mình mở rộng ra bao la. Hồ như thi hứng đang ủ men thơ trong lòng mình.

Ngày trước, đây là nơi ẩn cư của các Đạo sĩ. Bao nhiêu vua chúa, vương giả, tao nhân mặc khách đã tới đây để xa lìa trần tục, tĩnh dưỡng, ngoạn cảnh. Bao nhiêu thi bá, thi hào, thi thánh, thi tiên nổi danh của Trung Hoa đã tới đây đề thơ. Trong đó có thi tiên Lý Bạch (李白, Libai) có nhiều bài thơ viết về hồ Động Đình. Một bài thơ của Lý Bạch được khắc lên một tảng đá ở đây:

Ngẩng mặt ngắm trời thu trên hồ Động Đình, thi tiên Lý Bạch đang làm thơ.

Dưới đây là phần chuyển qua Hán Việt và Việt ngữ của bài thơ có hàng chữ lớn “Đan thanh họa xuất thị Quân sơn” khắc trên tảng đá ở hình trên và lời ghi chú của anh Đỗ Ngọc Thành.

李白 Lý Bạch

游洞庭五首/其五 Du Động Đình (ngủ thủ-5 bài/ kỳ ngủ-bài 5).

帝子瀟湘去不還。 Đế t tiêu tương khứ bất hoàn

空余秋草洞庭間。 Không dư thu thảo động đình gian

淡掃明湖開玉鏡。 Đạm tảo minh hồ khai ngọc kính

丹青畫出是君山。 Đan thanh họa xuất thị Quân sơn


Dịch qua Việt ngữ:

Nơi sông Tiêu Tương Vua đi mà không về, chỉ còn cỏ thu ở Động đình gian, gió nhẹ tan sương thấy mặt hồ, nắng lên họa rõ ra là “Quân” Sơn.

*** Du Động Đình của Lý Bạch có tới 5 bài, đây là bài thứ 5, và còn nhiều bài khác của Lý Bạch cũng nói về Động Đình...

Bài thơ Lý Bạch làm cả hơn ngàn năm trước mà giờ vẫn thấy đúng ngay trước mắt chúng tôi ngày cuối thu hôm đó: “Gió nhẹ tan sương thấy mặt hồ” và “nắng lên họa rõ ra là Quân Sơn”.

Và Lưu Vũ Tích (Liu Yuxi) với bài Vọng Động Đình:

Lưu Vũ Tích đang lim dim làm thơ.

Sau đây là phần chuyển qua Hán Việt và ghi chú của anh Đỗ Ngọc Thành:

望洞庭-Vọng Động Đình

刘禹锡-Lưu Vũ Tích

湖光秋月两相和,潭面无风镜未磨。

Hồ Quang thu nguyệt lưỡng tương Hòa, Đầm diện vô phong kính vị ma

遥望洞庭山水翠,白银盘里一青螺

Dao vọng Động Đình Sơn thủy thúy, Bạch ngân bàn lý nhất thanh loa

Ghi chú :

湖光: Hồ quang, quang là "phong quang, phong cảnh, cảnh quang, phong cảnh của hồ.
秋月: Thu Nguyệt: trăng mùa thu.
两相和: Lưỡng tương hòa, cả 2 (cảnh quang của hồ và cảnh trăng thu) cùng hòa chung với nhau...
潭面: Đàm diện: diện của đầm, tức là mặt nước đầm (Hán Việt: Đàm/ thuần Việt: Đầm => thật ra là...giống nhau).
: Vô phong : không gió.
镜未磨: Kính vị ma: Kính chưa bị mài (mặt kính chưa bị "mài" trầy, mờ...).
遥望: Dao vọng: ...xa "diệu" vợi mà "vọng"/ nhìn.../ tiếng Quảng Đông và Triều Châu còn đọc "dieo/" như diệu.
洞庭: Động Đình: (sẻ giải thích rõ gốc chữ ở phần Hồ Động Đình và Truyền Thuyết Việt).

山水翠: Sơn thủy thúy, "thúy" là con chim xanh (đẹp) ngày xưa gọi là Thanh Vủ Tước: 青羽雀 (Tước bên tiếng Bắc kinh đọc rất giống âm "sẻ" là "chsé" cũng là "Nôm có trước"), một thứ chim bói cá có mầu xanh biếc gọi là ‘thủy thúy’,

sau nầy thúy dùng với nghĩa là đẹp (của màu xanh: rừng xanh, núi xanh, nước trong xanh, ngọc đẹp sáng lung linh ánh trong, xanh.., cái đẹp trong xanh là "Thúy"!
: Bạch ngân: bạc có màu trắng...khác với vàng, nước dao động bởi dòng chảy hay gợn gió sóng thường phản chiếu ánh sáng lóng lánh như bạc...
盘里: Bồn lý/Bàn Lý ...Trong một cái Bồn (nước), ý so sánh hồ nước như một cái thau nước lớn...
一青螺: Nhất thanh Loa; 1 ốc xanh...
......

Truyền thuyết, huyền thoại.

Đảo có không biết bao nhiêu là truyền thuyết, huyền thoại. Nổi bật nhất là những truyền thuyết liên hệ với Long Vương:

. Đền Động Đình.

Đền Động Đình (ảnh của tác giả).

Truyền thuyết nói rằng có một vị long vương sống dưới đáy hồ. Đền hồ Động Đình thờ Long Vương vị vua hồ Động Đình này (xem phần viết Hồ Động Đình và Truyền Thuyết Việt).

.Giếng Liễu Nghị (Liu Yi).

Giếng Liễu Nghị là đường xuống thủy phủ của Long Vương.

Giếng Liễu Nghị nguyên gốc gọi là giếng Cam vì gần đó có cây cam được xây cất đầu tiên vào thời nhà Tùy. Truyền thuyết kể rằng một sĩ tử ở Hồ Nam tên là Liu Mingying trên đường về thủ đô đi thi gặp nàng con gái Long Vương. Nàng bị một người giầu có tên là Jin Baiwan hành hạ bắt đi chăn cừu. Liu giúp nàng. Nàng chỉ cho Liêu dùng giếng Cây Cam xuống gặp Long Vương và đưa thư của nàng cho Long Vương. Long Vương cứu con gái và nhận chết chìm Jin Baiwan. Về sau Liu lấy con gái Long Vương. Câu chuyện về sau được Li Zhaowei viết thành truyền thuyết và phổ biến rộng dãi trong dân gian, trở thành một trong sáu câu chuyên dân gian nổi tiếng của Trung Hoa. Tới thời nhà Tống, giếng được đổi tên là Giếng Liễu Nghị. Ngày nay được xem là một di sản văn hóa.

Những truyền thuyết khác liên hệ với các vị thần ở đảo Quân Sơn và hồ Động Đình như:

.Đền Tương Phi (Xiangfei).

Đền Tưởng Niệm Tương Phi (Xiangfei) ngày xưa gọi là Đền Tương Sơn. Đền được xây cất đầu tiên vào thời Chiến Quốc để thờ vị thần ở Quân Sơn và sông Tương. Theo truyền thuyết kể lại thì vua Thuấn (Shun,) đi tuần thú và bị bệnh chết ở đây, rồi hai nàng ái phi là Nga Hoàng 娥皇 và Nữ Anh 女英 đi tìm và đến ngày hẹn "hội ngộ" tại đây mà không gặp rồi mòn mỏi chờ ngã bệnh mà chết theo chồng và được chôn cất nơi này. Sau nầy Khuất Nguyên 屈原 làm thơ gọi là Tương Quân (Xiangjun 湘君) và Tương Phu Nhân (Xiang Furen, 湘夫人). Tương Quân lại được cho là "thần sông" của Sông Tương, Tương Phi 湘妃 là chỉ chung hai nàng ái phi của Vua Thuấn.
Vì vậy nên từ đời nhà Đường đền được đổi tên là Đền Tưởng Niệm Tương Phi. Đền được trùng tu lại vào đời vua Jia Qing triều nhà Thanh.

.Mộ Hai Bà Vương Phi.

Do đó ở đây cũng có mộ của hai bà Vương Phi.

.Vườn tre đốm (mottled bamboo) giọt nước mắt.

Tre Tương Phi có đốm hình giọt nước mắt (ảnh của tác giả).

Tại đây có một loại tre đốm đặc biệt. Theo người hướng dẫn viên loại tre này có nguồn gốc ở đây. Tương truyền rằng sau khi nghe vua Thuấn chết hai bà vương phi ôm thân tre khóc thương thảm thiết. Nước mắt của hai bà nhỏ xuống thân tre biến thành đốm hình giọt nước mắt. Vì thế tre này còn được gọi là Tương Phi trúc hay Tương trúc.

Nhìn cây tre đốm mà sững sờ, trong bộ sưu tập tre của tôi cũng có loại tre đốm loại này. Thật ra tre đốm này là một chủng của họ tre Phyllostachys viridis.

Tre đốm trong bộ sưu tập tre của tác giả (ảnh của tác giả).

Tôi trồng loại tre đốm này bằng càch hãm không cho chậy tạo thành bụi và có lẽ

tại khí hậu California nên tre không to lắm và đốm có mầu nhạt hơn. Bây giờ tôi

mới biết thêm tên loại tre này là Tương Phi trúc hay Tương trúc và có ở hồ Động

Đình, nơi nguồn cội của Đại Tộc Việt. Có trong tay một giống tre thật quí hiếm

mà giờ mới biết! Quả đúng là đi một ngày đàng, học được một sàng khôn.

Giai Thoại Địa Phương

Những giai thoại địa phương như:

.Tiếng Chuông Bay Đến Từ Trời.

Tiếng Chuông Bay Tới Từ Trời (The Bell That Flew From Afar) cũng còn gọi là Chuông Báo Động Bay Tới Từ Trời, vắn tắt hơn Chuông Trời là một di vật của cuộc nổi dậy của nông dân vào Triều Đại Nam Tống. Zhong Xiang và Yang Yao cầm đầu các nông dân nổi dậy ở vùng hồ Động Đình gồm cả đảo Quân Sơn. Nhân dân tại Quân Sơn giúp quân nổi dậy bằng cách tự đúc một cái chuông nặng hai tấn. Họ bí mật treo lên cây dùng để báo động. Quân nổi dậy tưởng rằng trời đã dóng tiếng chuông báo động cho họ biết mỗi khi có quân đội của chính phủ tiến đánh.

Chuông bị phá hủy trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa và được đúc lại năm 1979.

.Cây thiêng

Ở đây có một cây được cho là cây thiêng. Thân cây chỉ còn lại phần vỏ cây. Cành cây mọc ra từ vỏ cây này. Cây chết đi sống lại nhiều lần. Dân gian nhận thấy mỗi lần cây chết đi là có một đại họa sắp xẩy ra cho Trung Hoa, ví dụ như cây đã chết vào thời Cách Mạng Văn Hóa và ngày nay lại đâm nhánh mọc lại.

Phong cảnh, công viên

Như đã nói cảnh quan nơi đây thật là thần tiên. Có rất nhiều công viên, hồ nước

như hồ Ái Ân...

Lễ hội:

Lễ hội quan trọng nhất là Lễ Đua Thuyền Rồng trong tết Đoan Ngọ (Duanwu Jie). Ngày nay cho rằng Lễ Hội Đua Thuyền Rồng trong tết Đoan Ngọ liên hệ với nhà thơ nổi tiếng Khuất Nguyên (Qu Yuan), một người trong hoàng tộc nước Sở, làm chức Tả Đồ cho Sở Hoài Vương. Về sau ông bị thất sủng vì đám nịnh thần và bị vua Tương Vương (người nối ngôi Sở Hoài Vương) đầy ra Giang Nam (phía nam sông Dương Tử). Ông sáng tác bài thơ Ly Tao Sở Từ, diễn tả tâm sự buồn vì đất nước suy vong với họa mất nước. Sau đó ông gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn ngày mùng 5 tháng 5. Dân địa phương tìm cách cứu vớt ông. Họ dùng chèo khuấy nước xua đuổi cá, làm bánh ú (zhongzi) đem thả xuống hồ để cho cá ăn để khỏi ăn thịt Khuất Nguyên. Kể từ đó, mỗi năm cứ đến ngày mồng năm tháng năm, nhân dân vùng hồ Động Đình tổ chức lễ Đoan Ngọ, Duanwu (Đoan biến âm của Duan- có dua- liên hệ với đũa, dual-,duo-, Phạn ngữ dva- là đôi, hai và wu là ngũ, năm. Ngọ biến âm với ngũ, năm. Duanwu, đoan ngọ là đôi năm, song ngũ, mồng 5 tháng 5). Tại Việt Nam tết Đoan Ngọ chúng ta ăn bánh ú tro (bánh tro gói theo hình bánh ú), cổ tay đeo chỉ ngũ sắc, giết sâu bọ, ăn cơm rượu nếp, đi lên rừng lên núi hái thuốc...

Như thế Lễ Hội Đua Thuyết Rồng ở hồ Động Đình vào ngày mồng 5 tháng 5, lễ Đoan Ngọ thật ra chỉ là một sự phối hợp mà thôi. Thật sự Lễ Đua Thuyền Rồng đã có trước thời Khuất Nguyên và liên hệ với Long Vương, vua Động Đình Hồ (xem phần Hồ Động Đình và Truyền Thuyết Việt).

.......

.Đặc Sản

Đặc sản nổi tiếng nhất của đảo Quân Sơn là trà kim bạc (ngân châm trà). Đọt trà dài đầu nhọn như mũi kim. Lúc mới đổ nước sôi pha trà, trà nổi lên mặt đứng thẳng chỉ thiên. Khi ngấm rồi từ từ lắng xuống đáy nhưng vẫn giữ thằng đứng.

Trà ngân châm Quân Sơn (ảnh của tác giả).

Trà này là một sở thích của vua Càn Long đời nhà Thanh vì thế trở thành trà ngự dùng tiến vua.

Đảo có những nương trà xanh tươi lượn sóng trên các ngọn đồi. Mùa này trà đang ra hoa. Phần lớn hoa có mầu trắng nhụy vàng nhưng thỉnh thoảng cũng thấy hoa mầu hồng. Hoa giống trà hoa nữ (camelia).

.......

Toàn cảnh một phần hồ phải nhìn từ Lầu Lạc Dương (YueYang) ở thị trấn Lạc Dương (岳阳). Lạc Dương hay Nhạc Dương cùng với Ích Dương (益阳), Thường Đức (常德) là ba thị trấn lớn bên hồ Động Đình. Lầu Lạc Dương đã vang bóng, đã lừng danh một thời.

Bữa ăn trưa chúng tôi dùng các đặc sản cá rau từ hồ Động Đình. Ở đây có loại cá đầu to nổi tiếng ngon. Thức ăn Hồ Nam cay xé miệng, vã mồ hôi trán, nóng bỏng như phún xuất thạch mới phun ra từ núi lửa, cay hơn cả chục lần các món ăn Thái và Mễ. Sau bữa ăn trưa chúng tôi lên đường đến Lạc Dương.

(còn tiếp)